Sử thi (Hơmon) của người Ba Na thuộc Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo QĐ số 4205/QĐ-BVHTTDL Ngày 19/12/2014 thuộc loại hình Ngữ văn dân gian ở tỉnh Kon Tum cũ - nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Xem thêm
Sử thi Ba Na (người bản tộc gọi là hơmon) ra đời và tồn tại như một mắt xích quan trọng trong cuộc sống. Hơmon mang dấu vết của xã hội nguyên thủy, nặng màu sắc tín ngưỡng vạn vật hữu linh, là sợi dây kết nối giữa thế giới con người và tổ tiên, quá khứ với hiện tại, giữa thế giới hữu hình và vô hình với quan niệm: đó là hai nửa của một cộng đồng làng.
Hơmon là một phần bản sắc của người Ba Na, phản ánh lịch sử, xã hội, tri thức bản địa, tâm tư, nguyện vọng… của cộng đồng; là bức tranh toàn cảnh về quá khứ, trong đó lý giải những hiện tượng tự nhiên và xã hội như: sự hình thành trời đất và con người, tái hiện lại những cuộc chiến tranh, mô tả lại những phong tục tập quán của tộc người.
Hơmon gắn liền với tên tuổi những anh hùng thần thoại của buôn làng Tây Nguyên nói chung, người Ba Na nói riêng như Diông, Dư, Dăm Noi… Hơmon thường được chia thành nhiều khúc, đoạn, hợp lại thành một sử thi hoàn chỉnh, nhưng cũng có thể tách rời, giữ vị trí tương đối độc lập. Sự hình thành và thực hành hơmon trải qua một quá trình lâu dài, trong đó hoạt động sáng tạo của người hát kể hơmon đóng vai trò quan trọng. Họ là người am hiểu sâu sắc về cộng đồng, văn hóa của dân tộc mình và có trí nhớ tuyệt vời để hát kể những câu chuyện sử thi kéo dài nhiều đêm.
Hơmon được thể hiện bằng hình thức hát kể, người diễn xướng đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành, lưu truyền, và truyền dạy sử thi. Bên cạnh đó, phải kể đến người thưởng thức, bối cảnh diễn xướng trong không gian gắn liền với văn hóa của cộng đồng như trong nhà rông, trên rẫy, sau các lễ thức gia đình như cưới hỏi, lễ bỏ mả, nghi lễ cộng đồng,... Mỗi người hát kể lại thêm thắt, sáng tạo theo tư duy và khả năng riêng của mình tạo nên một dị bản hơmon, dựa vào những mẫu hình ngôn từ và chủ đề truyền thống chính của cốt truyện. Người hát kể hơmon thực hiện việc trình diễn tác phẩm không theo một lễ thức hay lịch tiết nhất định mà tùy hứng, có thể diễn xướng tại nhà, vào những đêm nông nhàn sau mùa làm rẫy hay những dịp lễ hội trong năm, hoặc trong lúc nghỉ ngơi trên rẫy sau những ngày lao động vất vả.
Qua nội dung và sự thể hiện của từng nhân vật trong sử thi, người nghe học được cách ứng xử giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người qua từng thời kỳ lịch sử của dân tộc mình. Tham dự vào các buổi hát kể sử thi, người nghe hiểu biết về đời sống vật chất và tinh thần của cha ông, những kinh nghiệm sống, ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội. Trong xã hội đương đại, hơmon vẫn đang tồn tại trong đời sống cộng đồng như một nhu cầu về văn hóa, xã hội, giải trí, và là môi trường nuôi dưỡng ý thức, tình cảm, ý thức về dân tộc và sự cố kết của cộng đồng.
(Theo Cục Di sản Văn hoá - Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch)
Người Ba Na tự hào với những thiên sử thi hào hùng về chàng Giông, chàng Sét. Đây là những "siêu anh hùng" của đại ngàn Tây Nguyên thuở sơ khai.
(Theo 'Kho tàng sử thi Tây Nguyên' - NXB Khoa học Xã hội và các tư liệu sưu tầm của nghệ nhân A Jar - Phường Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi)
Chàng GIÔNG (Diông) - Người anh hùng của những biến hóa
(Dựa theo tác phẩm: Giông Giơ̌)
Xuất thân kỳ lạ: Trong nhiều tác phẩm, Giông ban đầu xuất hiện dưới vỏ bọc là một cậu bé xấu xí, bẩn thỉu, hay ngủ ngày (gọi là Giông Giơ̌ - Giông "khùng"). Nhưng đó chỉ là lớp vỏ bọc để thử lòng người.
Sức mạnh thực sự: Khi trút bỏ lốt xấu xí, Giông trở thành một chàng trai tuấn tú, hào hoa, có sức mạnh phi thường làm rung chuyển cả núi rừng. Chàng là con cưng của các vị thần (Yang).
Chiến công hiển hách:
Đánh bại các tù trưởng tham lam muốn chiếm đoạt buôn làng.
Chiến đấu với quái vật và các thế lực hắc ám để bảo vệ sự bình yên.
Hành trình đi tìm vợ (người đẹp Rang Năr) đầy gian nan, vượt qua bảy núi chín sông.
Ý nghĩa: Giông đại diện cho ước mơ của người Ba Na về một người thủ lĩnh tài ba, biết ẩn mình chờ thời và luôn chiến đấu vì lẽ phải.
Chàng SÉT (Dăm Sét) - Chiến binh giữ gìn hạnh phúc
(Dựa theo tác phẩm: Bia Boven làm hại vợ chồng Sét)
Bi kịch khởi đầu: Câu chuyện của Sét thường bắt đầu bằng những biến cố gia đình. Khi buôn làng đang yên vui, kẻ ác (như tên Boven hung bạo) xuất hiện, cướp bóc của cải và bắt cóc vợ của Sét.
Cuộc chiến đòi công lý: Sét không chịu khuất phục. Chàng tập hợp dân làng, mài khiên, rèn kiếm để đi đòi lại công lý. Cuộc chiến của Sét thường được miêu tả rất dữ dội: "khiên múa như chớp giật", "giáo bay như mưa rào".
Kết cục: Chàng Sét luôn chiến thắng, trừng trị kẻ ác và đưa vợ, đưa dân làng trở về cuộc sống ấm no.
Ý nghĩa: Sét là biểu tượng cho lòng chung thủy, tình yêu gia đình và tinh thần đoàn kết, không bao giờ lùi bước trước kẻ thù hung mạnh.
Những đặc điểm "Siêu nhiên" thú vị trong Sử thi Ba Na
Vũ khí biết nói: Khiên, đao, kiếm của các anh hùng không chỉ là sắt thép, chúng có linh hồn, biết bay lượn và nghe theo lệnh chủ nhân.
Sức mạnh của thiên nhiên: Khi người anh hùng chiến đấu, cả thiên nhiên cũng tham gia: Gió bão nổi lên, sấm sét ầm ầm, thần Núi, thần Sông cũng hiện ra giúp sức.
Những bữa tiệc khổng lồ: Sau chiến thắng, các sử thi luôn kết thúc bằng những lễ hội ăn mừng kéo dài cả mùa trăng, tiếng cồng chiêng vang vọng khắp núi rừng, thể hiện sự thịnh vượng của buôn làng (Plei).
Bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên gồm 75 tác phẩm (in trong 62 tập) đã được Nhà xuất bản Khoa học xã hội công bố trong các năm 2004 - 2007, gồm 30 tác phẩm.
Tác phẩm xếp theo trật tự chữ cái của tên tộc người, trong mỗi tộc người xếp theo năm xuất bản và trong từng năm xếp theo trật tự chữ cái của tên tác phẩm Ba Na, cụ thể như sau:
1. Giông, Giỡ mồ côi từ nhỏ: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng, Lưu Danh Doanh; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Hồng, A Jar; biên tập văn học: Võ Quang Trọng, 2005, 617 tr.
2. Giông làm nhà mồ: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tur, A Jar, Y Kiưch; biên tập văn học: Võ Quang Trọng, 2005, 534 tr.
3. Anh em Glang Mam: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: Y HNhẽo; sưu tầm: Võ Quang Trọng, Bùi Ngọc Quang, Trần Đình Trung, A Tuưng; phiên âm: A Jar, Y Hồng; dịch sang tiếng Việt: A Jar; biên tập văn học: Phan Hoa Lý, 2006, 445 tr.
4. Chàng Kơ Tam Gring Mah: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm: Y Tưr; dịch sang tiếng Việt: Y Tur, Y Kiưch; biên tập văn học: Hà Đình Thành, Lê Thị Thuỳ Ly, 2006, 532 tr.
5. Dăm Noi: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: Bok Angěp; sưu tầm: Nguyễn Quang Tuệ; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Siu Pêt; biên tập văn học: Nguyễn Quang Tuệ, 2006, 204 tr.
6. Giông cứu đói dân làng mọi nơi: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tur, Y Kiuch; biên tập văn học: Lê Văn Kỳ, Lê Thị Thuỳ Ly, 2006, 545 tr.
7. Giông cứu nàng Rang Hu: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Hon; sưu tầm: Phạm Cao Đạt, Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: A Jar; biên tập văn học: Võ Quang Trọng, 2006, 408 tr.
8. Giông đánh quỷ Băng Lũng: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm: Y Tưr; dịch sang tiếng Việt: A Jar, Y Kiưch; biên tập văn học: Võ Quang Trọng, 2006, 484 tr.
9. Giông đạp đổ núi đá cao ngất: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm: Y Tưr; dịch sang tiếng Việt: A Jar, Y Kiưch; biên tập văn học: Võ Quang Trọng, 2006, 810 tr.
10. Giông đi tìm vợ: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Đen; sưu tầm: Võ Quang Trọng, Phạm Cao Đạt; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: A Thút, A Jar; biên tập văn học: Võ Quang Trọng, 2006, 184 tr.
11. Giông, Giỡ đi săn chém cọp của Dăm Hơ Dang: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tur, Y Kiưch; biên tập văn học: Phạm Quỳnh Phương, 2006, 428 tr.
12. Giông lấy khiên đao bok Kei Dei: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tur, Y Kiưch; biên tập văn học: Đặng Diệu Trang, 2006, 466 tr.
13. Giông lây nàng Bia Phu: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu sưu tầm: Võ Quang Trọng phiên âm: Y Tur; dịch sang tiếng Việt: A Jar, Y Kiưch; biên tập văn học: Võ Quang Trọng, 2006, 564 tr.
14. Giông leo mía thần: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tưr, Y Kiưch; biên tập văn học: Lê Thị Thuỳ Ly, 2006, 457 tr.
15. Giông Trong Yuăn: Sử thi Ba Na (Bản sưu tầm tại làng Krong Ktu, xã Yang Bắc, huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai), nghệ nhân hát kể: Bok Păh; sưu tầm: Nguyễn Quang Tuệ; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Siu Pêt; biên tập văn học: Nguyễn Quang Tuệ, 2006, 860 tr.
Giông Trong Yuăn: Sử thi Ba Na (Bản sưu tầm tại làng Grek, xã H'Nol, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai), nghệ nhân hát kể: Yã Hơt; sưu tầm: Nguyễn Quang Tuệ; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Siu Pêt; biên tập văn học: Nguyễn Quang Tuệ, 2006, 281 tr.
16. Giỡ hao jrang: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: Bok Pơnh; sưu tầm: Nguyễn Quang Tuệ; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Siu Pêt; biên tập văn học: Nguyễn Quang Tuệ, 2006, 305 tr.
17. Atâu So Hle, Kone Goseng: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: Bok Pơnh; sưu tầm: Nguyễn Quang Tuệ; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Siu Pêt; biên tập văn học: Nguyễn Quang Tuệ, 2007, 205 tr.
18. Bia Phu bỏ Giông: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm: Y Tur; dịch sang tiếng Việt: Y Kiưch; biên tập văn học: Võ Quang Trọng, 2007, 372 tr.
19. Cọp bắt cóc Giông thuở bé: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng phiên âm: Y Tur; dịch sang tiếng Việt: Y Kiưch; biên tập văn học: Lê Thị Thuỳ Ly, 2007, 392 tr.
20. Giông bọc trứng gà: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tur, Y Kiưch; biên tập văn học: Lê Thị Thuỳ Ly, 2007, 254 tr.
21. Giông cưới nàng Khỉ: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm: Y Tưr; dịch sang tiếng Việt: Y Kiuch; biên tập văn học: Nguyễn Việt Hùng, 2007, 614 tr.
22. Giông dẫn các cô gái đi xúc cá: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm: Y Tưr; dịch sang tiếng Việt: Y Kiưch; biên tập văn học: Lê Thị Thuỳ Ly, 2007, 503 tr.
23. Giông đánh hạ nguồn cứu dân làng: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tưr, Y Kiưch; biên tập văn học: Nguyễn Việt Hùng, 2007, 489 tr.
24. Giông đi đòi nợ: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: A Jar; biên tập văn học: Võ Quang Trọng, 2007, 501 tr.
25. Giông giết sư tử cứu làng Set: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm: Y Hồng; dịch sang tiếng Việt: A Jar; biên tập văn học: Võ Quang Trọng, 2007, 429 tr.
26. Giông kết bạn với Glaih Phang: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tur, Y Kiưch; biên tập văn học: Lê Thị Thuỳ Ly, 2007, 397 tr.
27. Giông ngủ ở nhà rông của làng bỏ hoang: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tur, Y Kiưch; biên tập văn học: Trần Nho Thìn, Lê Thị Thuỳ Ly, 2007, 489 tr.
28. Giông nhờ ơn thần núi làm cho giàu có: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tâm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tur, Y Kiưch; biên tập văn học: Trần Nho Thìn, 2007, 583 tr.
29. Giông săn trâu rừng: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm, dịch sang tiếng Việt: Y Tưr, Y Kiưch; biên tập văn học: Tạ Long, 2007, 511 tr.
30. Set xuống đồng bằng thăm bạn: Sử thi Ba Na, nghệ nhân hát kể: A Lưu; sưu tầm: Võ Quang Trọng; phiên âm: Y Tưr; dịch sang tiếng Việt: Y Kiưch; biên tập văn học: Lê Trung Vũ, Bùi Ngọc Quang, Lê Thị Thuỳ Ly, 2007, 542 tr.
Dựa trên thống kê từ bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên, nghệ nhân A Lưu là người đã gìn giữ và hát kể số lượng tác phẩm đồ sộ nhất với 23 bộ Sử thi khác nhau.
GÓC ĐẠI SỨ VĂN HOÁ
Già A Lưu, người kể Sử thi Ba na ở Kon Tum
Già A Jar - Người miệt mài hai thập kỷ dịch sử thi
Nhóm nghiên cứu gặp và nghe Nghệ nhân A Za hát Sử thi ở làng Kon Gung - xã Đăk Mar - tỉnh Quảng Ngãi